KIÊNG ĂN CẦU NGUYỆN (một Mục sư) | Một vấn-đề hết sức thiêng-liêng và cũng hết sức thực-tế. - Vấn đề KIÊNG ĂN CẦU NGUYỆN |
Khi môn đồ không đuổi quỷ được, họ hỏi Chúa Jesus tại sao? Ngài trả lời: Là tại vì các ngươi không kiêng ăn cầu nguyện (Mác 9: 29)
I. KIÊNG ĂN có phải là ĂN CHAY, ĂN KIÊNG, hoặc TUYỆT THỰC ?
Từ Kiêng ăn (Hy Lạp) = nhịn ăn, không ăn. Người Công Giáo dịch là “ăn chay” (Nghĩa là có ăn nhưng không ăn mặn). Người ngoại thường hiểu là “tuyệt thực” (hàm ý tranh đấu). Kiêng ăn trong Kinh Thánh có nghĩa là không ăn, nhưng không có ý đấu tranh (thậm chí ngược lại), nhiều khi không uống.
(Thượng toạ Thích Tú Quang tuyệt thực 100 ngày nhưng có uống nước sâm)
II. KIÊNG ĂN CẦU NGUYỆN là 1 “chuyện” hay 2 “chuyện”?
Cầu nguyện (CN) là 1 chuyện cái đó rõ rồi. Nhưng kiêng ăn (KA) luôn đi kèm cầu nguyện. Có thể CN mà không KA, nhưng không thể KA mà không CN. KACN là 2 trong 1.
III. Tại sao phải KIÊNG ĂN CẦU NGUYỆN?
- Để bài tỏ thái độ “hạ mình xuống” trước mặt Chúa. (Ê-xơ 8:21). Người Do Thái quỳ gối không xổng lưng hoặc chỉ khom lưng như mình, mà là mọp xuống (đầu chạm đất) hạ cái tôi xuống sát đất là thể hiện đức tin, tôi bất năng nhưng Chúa tôi toàn năng.
- Để tìm biết ý muốn Chúa (Ê-xơ 8: 21b). Con đường hồi hương từ Babylone dãy kẻ thù, cướp bóc. Văn sĩ Ê-xơ-ra lãnh đạo đám dân ô hợp trở về đất mẹ, biết làm gì hơn là “cầu xin Ngài chỉ cho con biết con đường chính đáng (“thượng lộ bình an”) chúng ta, con cái chúng ta, và “tất cả tài sản mình phải đi”. Cảm tạ Chúa vì “tay của ĐCT phù trợ (“độ lượng”) mọi kẻ nào tìm kiếm Ngài, nhưng quyền năng và thạnh nộ (“giận dữ”) Ngài kháng cự (“chống lại”) những (“tất cả”) kẻ nào lìa bỏ Ngài”. (E-xơ 8: 22).
Tôi nhớ lại chuyện quỷ sứ đánh thức tín đồ dậy đi cầu nguyện (Chuyện hay Đông Tây I tr.334). Có chuyện trái-khoáy như vậy sao? Hãy nghe nó lý-luận “khi ngủ quên không cầu-nguyện, tín-đồ sẽ hối-hận, sẽ khiêm-tốn, sẽ sửa-chữa, do đó sẽ tốt hơn. Còn nếu không ngủ quên, sẽ sốt-sắng và do đó sẽ kiêu-căng tự-mãn.
CNKA là cầu-nguyện với thái-độ hạ mình xuống, tìm cầu ý muốn Chúa.
IV. KIÊNG ĂN CẦU NGUYỆN sẽ được gì?
1. Được nhậm lời:
Có 3 cái “được”, cái được nào cũng lớn cả. Nầy nhé, được nhậm lời cầu-nguyện Ê-sai 58:9 Bấy giờ (sau khi KA câu 6), Ta cầu (“gọi, kêu”), Chúa sẽ “ứng” (“trả lời”). Ta kêu (“than khóc kêu giúp đỡ”), Ngài phán : “Có ta đây”. Sách giải kinh Ê-sai (G. Adam Smith) nói rất hay là có “3 cấp bậc” (“mức độ”) ích-kỷ (“lợi-ích cá-nhân”) cần loại trừ, một là “cái ách giữa ngươi” (“ách áp-bức”). Hai là “chỉ tay” (Bản dịch mới chú-thích: ý nói về vu-cáo, nói xấu, chỉ điểm. Châm 6:12-16). Ba là nói bậy (“nói lời hiểm độc hại người). Khi 1 thế lực bị 1 người kháng cự, nó sẽ áp bức người đó, sau đó sẽ vu cáo, nói xấu người đó, và sau cùng là nói những lời hiểm độc để hại người đó. Hãy nhìn vào thực tế để hình dung chân tướng 1 thế lực đang lũng đoạn Hội Thánh vì “lợi ích cục bộ”, đã làm những điều xằng bậy, cho dù có CNKA thì Chúa cũng không nghe (Ê-sai 58.4)
Theo sách giải kinh Ê-sai “Thế kỷ 21”(tr.121). Sự kiêng ăn được đề cho tinh thần mới mẻ là: - cải tổ xã-hội (C6) – quan-tâm chăm-sóc với lòng yêu-thương nhân-ái (C7) – từ bỏ lối hành-xử chỉ tay 5 ngón (C9). Quá hay! Vì sách Ê-sai được viết cách nay cỡ 2700 năm lại có thể đi vào thực-tiễn đến thế.
2. Được chữa lành ngay lập-tức (Ê-sai 58.8): vết thương của ta sẽ được chữa lành nhanh chóng. Sự sáng ta sẽ hừng lên như ban mai (“ánh sáng tỏ ra như rạng đông”) Sự công-bình đi trước mặt ta (mở đường phía trước) Sự vinh-hiển Chúa sẽ gìn-giữ sau ta (bảo-vệ phía sau) Sự sáng ta sẽ sáng ra trong tối-tăm (toả ra trong bóng tối) Sự tối-tăm ta sẽ như ban trưa (buổi tối ta sẽ biến thành buổi trưa). Chúa sẽ cứ dắt đưa (luôn hướng dẫn) ta. Cảm-tạ Chúa vì Chúa sẽ chữa lành mọi vết thương lòng của chúng ta.
3. Được thưởng: Chúa sẽ làm cho ta no lòng (“đáp ứng yêu-cầu”) giữa nơi khô hạn lớn (đồng khô cỏ cháy). Chúa sẽ làm cho cứng mạnh (cứng-cáp) các xương cốt ta. Ta sẽ như vườn năng tưới (tưới đẫm), như nước chẳng hề khô (dòng suối không hề cạn) cảm-tạ Chúa sẽ thưởng cho người thật lòng kiêng-ăn cầu-nguyện (Ma 6.18).
Sự KA mà Chúa chọn lựa (C6) là bẻ những xiềng hung-ác (tháo xiềng bất-công), mở những trói của ách (mở ách trói buộc), thả cho kẻ ức-hiếp được tự-do (trả tự-do cho người bị áp-bức), bẻ gãy mọi ách.
Anh chi em ơi! Hãy dựng lại nơi đổ nát ngày xưa (C12) tái-thiết tàn-tích cũ), lập lại các nền của nhiều đời trước (dựng lại nền-tảng thế-hệ trước). Người ta sẽ xưng ta là kẻ tu-bổ sự hư-hoại (Ta sẽ được vinh danh là người hoàn-chỉnh những đỗ vỡ của tường thành), kẻ sửa đường lại cho người ở (người phục-hồi những con đường cư-trú)
Con cá lóc mẹ cưu mang đàn ròng-ròng lội hết chỗ nào tới chỗ khác, không có chi ăn. Đành phải “lóc” lên bờ giả chết để cho đàn kiến bu, đau trong họng, trong mang, trong má, trong mình mẩy. Cá lóc mẹ hy-sinh thân mình, chịu đau vì đàn con thân yêu. Khi mình đầy kiến, nó nhảy xuống nước (con cá lên bờ vì hoàn cảnh, nước mới là chỗ của nó). Bầy ròng-ròng lúc đó mới được no lòng. Và mới có câu chuyện kiến ăn cá và cá ăn kiến. Cá lóc mẹ nhịn ăn, hy-sinh vì bầy con.
Anh chị em thân mến! Hãy thử kiêng-ăn cầu-nguyện 1 ngày. Kinh Thánh bào-đảm với chúng ta sẽ được phước. Hoàng-hậu Ê-xơ-tê không chết, ngày tàn Do Thái trở nên ngày hội chiến-thắng. Hãy thử-nghiệm và đắc-thắng.